Thursday, 01/10/2020 - 07:28|
Chào mừng bạn đến với cổng thông tin điện tử của Trường THCS Chu Văn An

54 dân tộc Việt Nam

54 dân tộc việt Nam

Theo các tài liệu phổ biến trong thế kỷ XX thì quá trình hình thành các dân tộc Việt Nam có thể chia thành ba giai đoạn [note 1]:

  1. Vào thời kỳ đồ đá giữa khoảng 20-10 Ka BP (Kilo annum before present, ngàn năm trước), có một bộ phận thuộc Đại chủng Á, sống ở tiểu lục địa Ấn Độ di cư về phía đông, tới vùng ngày nay là Đông Dương thì dừng lại. Tại đây, bộ phận của Đại chủng Á kết hợp với bộ phận của Đại chủng Úc bản địa và kết quả là sự ra đời của chủng Cổ Mã Lai (tiếng PhápIndonésien).
  2. Cuối thời kỳ đồ đá mới, đầu thời kỳ đồ đồng khoảng 5 Ka BP. Tại khu vực mà ngày nay là miền bắc Việt Nam, miền nam Trung Quốc (từ sông Dương Tử trở xuống), có sự chuyển biến do chủng Cổ Mã Lai tiếp xúc thường xuyên với Đại chủng Á từ phía bắc tràn xuống, sự chuyển biến này hình thành một chủng mới là chủng Nam Á (tiếng Pháp: austro-asiatique).
  3. Thời kỳ sau đó, chủng Nam Á được chia thành một loạt các dân tộc mà các cổ thư Việt Nam và Trung Hoa gọi là Bách Việt. Ban đầu, họ nói một số thứ tiếng như: Môn-KhmerViệt-MườngTày-TháiH'Mông-Dao,... Sau này quá trình chia tách này tiếp tục để hình thành nên các dân tộc và các ngôn ngữ như ngày nay. Trong khi đó, phía nam Việt Nam, dọc theo dải Trường Sơn vẫn là địa bàn cư trú của người Cổ Mã Lai. Theo thời gian họ chuyển biến thành chủng Nam Đảo. Đó là tổ tiên của các dân tộc thuộc nhóm Chăm.

 

Các dân tộc Việt Nam hiện naySửa đổi

Bài chi tiết: Danh sách các dân tộc Việt Nam theo số dân

Dân sốSửa đổi

Theo số liệu tổng điều tra dân số, tính đến 0 giờ ngày 1/4/2009, dân số của Việt Nam là 85.846.997 người, tăng 9,47 triệu người so với năm 1999. Tỷ lệ tăng dân số bình quân năm trong giai đoạn 1999-2009 là 1,2%/năm, giảm 0,5%/năm so với 10 năm trước.

54 dân tộc sống trên đất Việt Nam chia theo ngôn ngữ thì có 8 nhóm [note 2]. Dân tộc đông nhất là dân tộc Kinh, chiếm 86,2% dân số. Các dân tộc thiểu số đông dân nhất: TàyThái (Chữ Thái Đen: ꪼꪕ), MườngKhmerHoaNùngH'Môngngười DaoGia RaiÊ ĐêChămSán DìuRa Glai. Đa số các dân tộc này sống ở miền núi và vùng sâu vùng xa ở miền Bắc, Tây Nguyênmiền trung và đồng bằng sông Cửu Long. Cuối cùng là các dân tộc BrâuƠ đu và Rơ Măm chỉ có trên 300 người.

Số liệu dân số theo Kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009.[1]

Số liệu 2014, 2016 để tham khảo, không có chi tiết cho các dân tộc.

Các dân tộc theo Tổng điều tra Dân số 2009
NhómDân tộcDân sốTên gọi khác
 Việt NamTổng91.700.000Ước tính dân số 07/2016 [2]
 Việt NamTổng90.493.352Số liệu dân số 04/2014
 Việt NamTổng85.846.997Điều tra 04/2009, trong đó có tính cả hai.134 người thành phần khác
1. Nhóm Việt - Mường
(ngữ hệ Nam Á)
(Vietic[3]
Kinh73.594.427Việt
Chứt6.022Xá La Vàng, Chà Củi, Tắc Củi, Mày, Sách, Mã Liềng, Rục
Mường1.268.963Mol, Mual
Thổ74.458Kẹo, Mọn, Họ, Cuối, Đan Lai, Ly Hà, Tày Poọng
2. Nhóm Tày - Thái
(Tai–Kadai)
Bố Y2.273(Bouyei) Chủng Chá, Trung Gia, Pầu Y, Pủ Dí
Giáy58.617(Bouyei) Nhắng, Giắng, Sa Nhân, Pấu Thỉn, Chủng Chá, Pu Năm
Lào14.928Lào Bốc, Lào Nọi
Lự5.601Lừ, Duôn, Nhuồn
Nùng968.800 
Sán Chay169.410Mán, Cao Lan - Sán Chỉ, Hờn Bạn, Hờn Chùng, Sơn Tử
Tày1.626.392Thổ
Thái1.550.423Táy, các nhóm: Thái TrắngThái ĐenThái Đỏ
3. Nhóm Kadai
(Kra)
Cờ Lao2.636(Gelao)
La Chí13.158(Lachi) Thổ Đen, Cù Tê, Xá, La Ti, Mán Chí
La Ha8.177Xá Khao, Xá Cha, Xá La Nga
Pu Péo687(Qabiao, Pubiao) Ka Bẻo, Pen Ti Lô Lô, La Quả, Mán
4. Nhóm Môn – Khmer

(ngữ hệ Nam Á)
(Austroasiatic)

Ba Na227.716(Bahnar) Bơ Nâm, Roh, Kon Kde, Ala Công, Kpang Công
Brâu397Brao
Bru - Vân Kiều74.506(Bru) Bru, Vân Kiều, Ma Coong, Khùa, Trì
Chơ Ro26.855Châu Ro, Dơ Ro
Co33.817(Cor) Trầu, Cùa, Col
Cơ Ho166.112(Koho)
Cơ Tu61.588(Katu) Ca Tu, Ca Tang, Cao, Hạ
Giẻ Triêng50.962Giang Rẫy, Brila, Cà Tang, Doãn
Hrê127.420(H're) Chăm Rê, Thạch Bích
Kháng13.840Xá Khao, Xá Đón, Xá Tú Lăng
Khơ Me1.260.640Khmer
Khơ Mú72.929(Khmu) Xá Cẩu, Pu Thênh, Tày Hạy, Việt Cang, Khá Klậu, Tênh
Mạ41.405 
Mảng3.700Mảng Ư, Xá Lá Vàng, Niễng O, Xa Mãng, Xá Cang Lai
M’Nông102.741(Mnong)
Ơ Đu376Tày Hạt
Rơ Măm436 
Tà Ôi43.886(Ta Oi, Tahoy) Tôi Ôi, Ta Hoi, Ta Ôih, Tà Uất, A tuất, Pa Cô
Xinh Mun23.278Puộc, Pụa, Xá.
Xơ Đăng169.501(Sedang) Kmrâng, H'Đang, Con Lan, Brila, Ca Dong, Tơ-dra
X’Tiêng85.436(Stieng) Xa Điêng, Tà Mun
5. Nhóm H'Mông - Dao
(Hmong–Mien)
Dao751.067(Yao) Mán, Động, Trại, Dìu, Miến, Kiêm, Kìm Mùn
H’Mông1.068.189(Hmong) Mông, Mèo, Mẹo, Mán, Miêu Tộc
Pà Thẻn6.811Pà Hưng, Mán Pa Teng, Tống
6. Nhóm Nam đảo
(Malayo-Polynesia)
Chăm161.729Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời, Chàm
Chu Ru19.314Chơ Ru, Kru
Ê Đê331.194(Rhade) Ra đê
Gia Rai411.275(Jarai) Chơ Rai
Ra Glai122.245(Roglai) O Rang, Glai, Rô Glai, Radlai
7. Nhóm Hán
(Sinitic)
Hoa823.071(Overseas Chinese) Tiều, Hán
Ngái1.035(Hakka Chinese) Sán Ngái
Sán Dìu146.821Trại, Trại Đát, Sán Rợ, Mán quần cộc, Mán váy xẻ
8. Nhóm Tạng-Miến
(Tibet-Burma)
Cống2.029(Phunoi)
Hà Nhì21.725(Hani) U Ní, Xá U Ní, Hà Nhì Già
La Hủ9.651(Lahu)
Lô Lô4.541(Yi) Mùn Di, Ô Man, Lu Lọc Màn, Di, Qua La, La La, Ma Di
Phù Lá10.944Phú Lá (Xá Phó)
Si La709Cú Đề Xừ[4][5]

Có thể nhận thấy mỗi một dân tộc có thể có một hoặc nhiều tên gọi. Trong số các tên gọi đó có thể trùng nhau:

  • Dân tộc Mán có thể là: Sán Chay, Dao, H’Mông, Pu Péo, Sán Dìu (Mán quần cộc, Mán váy xẻ)
  • Dân tộc  là tên gọi chung cho các dân tộc thiểu số tại Tây Bắc trừ người Thái và người Mường
  • Dân tộc Brila có thể là: Giẻ Triêng, Xơ Đăng.
  • Dân tộc Thổ có thể chỉ dân tộc Tày.

 

Các dân tộc chưa được xác định rõSửa đổi

Đây là những dân tộc được nhắc đến trong hoạt động xã hội, nhưng lại không được nêu trong danh sách 54 dân tộc tại Việt Nam.

Người Pa KôSửa đổi

Người Pa Kô là tên một cộng đồng thiểu số có vùng cư trú truyền thống là Trung Việt Nam và Nam Lào. Theo nghĩa trong tiếng Tà Ôi thì "Pa" là phía, "Kô" là núi, tức là người bên núi [6]. Tại Việt Nam người Pa Kô chủ yếu sống ở các huyện Hướng HóaĐakrông tỉnh Quảng Trị, và A Lưới tỉnh Thừa Thiên - Huế [7]. Tuy nhiên cộng đồng Pa Kô chưa được coi là một dân tộc riêng mà đang được xếp vào dân tộc Tà Ôitrong Danh mục các dân tộc Việt Nam. Theo Ethnologue[8] tiếng Pa Kô là một ngôn ngữ riêng biệt tuy cũng có quan hệ gần với người Tà Ôi, và tại Lào thì người Pa Kô và Tà Ôi là hai dân tộc riêng biệt [9].